Các công dụng chữa bệnh của Hà Thủ Ô

Hà thủ ô là tên riêng của một người được lấy đặt cho vị thuốc. Tương truyền, ông nội và bố của ông Hà Thủ Ô nhờ uống thuốc này 8 g/ngày mà thọ đến 160 tuổi. Bản thân ông Hà Thủ Ô đến 130 tuổi râu tóc vẫn đen cũng là nhờ uống thuốc này hằng ngày.

Cùng tên hà thủ ô, ở Việt Nam có 2 loại: hà thủ ô đỏ và hà thủ ô trắng. Loại hay được dùng làm thuốc chính là hà thủ ô đỏ. Đó là một loại cây dây leo nhỏ, sống nhiều năm, mọc lẫn với nhiều loài cây khác. Hà thủ ô đỏ có vị chát, ngọt, đắng, tính hơi ấm. Theo Đông y, ngoài công dụng làm đen tóc, hà thủ ô đỏ còn có tác dụng bổ máu, an thần, dưỡng can, ích thận, cố tinh, nhuận tràng, chữa sốt rét.

Theo Tây y, hà thủ ô đỏ có thể chữa suy nhược thần kinh và các bệnh về thần kinh, bổ tim, giúp sinh huyết dịch, kích thích co bóp ruột, kích thích tiêu hóa, cải thiện dinh dưỡng, có tác dụng kiểu oestrogen và progesteron nhẹ. Nó cũng giúp tăng tiết sữa, chống co thắt phế quản, chống viêm. Nước sắc hà thủ ô đỏ 1/100 có thể ức chế sự phát triển của trực khuẩn lao. Còn cồn hà thủ ô đỏ có thể phòng xơ vữa động mạch, làm giảm cholesterol và triglycerid huyết thanh, ức chế tăng lipid máu.

Bộ phận dùng của hà thủ ô đỏ là phần rễ phình lên thành củ (trông giống củ khoai lang), thịt màu nâu đỏ, nhiều xơ.

Cách chế hà thủ ô đỏ:

- Hà thủ ô đỏ khô rửa sạch, cạo vỏ, ngâm nước rồi ủ cho mềm, thái lát.

- Đậu đen rửa sạch, đãi bỏ hạt lép, hạt sâu, ngâm nước 30 phút. (Hà thủ ô đỏ và đậu đen lượng bằng nhau).

- Rửa sạch chõ, xếp một phiến hà thủ ô đỏ, rắc một lớp hạt đậu đen, đồ cho đến khi hạt đậu đen chín nhừ, chọn lấy phiến hà thủ ô phơi khô, nếu làm được như vậy 9 lần (gọi là cửu chung cửu sái) là tốt nhất.

Sau đó, dùng hà thủ ô đã chế biến để sắc thuốc uống theo chỉ dẫn của thầy thuốc.

Hà thủ ô là dược liệu quý hiếm đã được đưa vào sách đỏ Việt Nam. Nó là vị thuốc bổ gan thận, bổ máu, chữa đau lưng mỏi gối, uống lâu làm đen râu tóc… Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường, vị thuốc quý này đang bị làm giả để trục lợi.

Cú điện thoại bất ngờ

Cách nay vài tuần, chúng tôi nhận được điện thoại của Huấn (*), một “thổ dân” ở Lâm Đồng, thường đi rừng và có kiến thức về cây thuốc. Huấn cho biết, anh vừa được đặt hàng: đào một loại củ để làm giả hà thủ ô đỏ.

Theo Huấn, không chỉ riêng mình mà nhiều người khác cũng được đặt hàng như anh. Các củ cây rừng được đặt hàng này sau đó sẽ gom về một đầu mối rồi bán cho thị trường. Huấn đã kiếm được mấy ký củ rừng như vậy nhưng khi anh gọi điện cho chúng tôi chứng tỏ anh đã từ chối “cuộc chơi” vì bứt rứt lương tâm.

Theo yêu cầu của chúng tôi, Huấn gửi xuống Sài Gòn một mớ củ rừng dùng để làm giả hà thủ ô đỏ nói trên. Đây là loại củ màu sẫm có gai nhỏ li ti, cứng ở vỏ. Nhận định ban đầu của một chuyên gia dược liệu là củ nâu, nhưng chưa khẳng định vì Huấn quên gửi xuống cành và lá.

Dư luận lâu nay đã nhắc đến việc dùng củ nâu làm hà thủ ô giả, thêm thông tin của Huấn, chúng tôi khi đến chợ thuốc Đông Nam Dược (Q.5, TPHCM). Vào một cửa hàng dược liệu ở đường Nguyễn Chí Thanh, lúc hỏi về hà thủ ô đỏ, người bán hàng lập tức nói có loại của Trung Quốc giá 60 ngàn đồng/kg, bán lẻ là 7 ngàn đồng một lạng. Chúng tôi mua một lạng. Tương tự, chúng tôi mua một số mẫu ở những cửa hàng trên các đường Triệu Quang Phục, Hải Thượng Lãn Ông…

Khi đưa mẫu về, một dược sĩ là giảng viên Đại học Y Dược TPHCM (xin không nêu tên) cho biết, về cảm quan, chưa nói về chất lượng thì đây là những mẫu thuốc thật. Tuy nhiên, dược sĩ này cho biết thêm: chị từng dẫn một đoàn dược sĩ ở Pháp đi tham quan chợ Đông Nam Dược ở quận 5 và gặp nhiều hà thủ ô giả.

Sau đó, bằng cách hỏi thêm loại hà thủ ô đỏ giá rẻ nhất, chúng tôi lấy được một số mẫu về (với giá chỉ 4 ngàn đồng/lạng) và dược sĩ nói trên khẳng định: “Đó chính là hà thủ ô đỏ giả lâu nay vẫn bán trên thị trường”. Dược sĩ giải thích rõ hơn: “Bằng mắt thường, củ hà thủ ô đỏ có dạng gần giống củ khoai lang với mặt ngoài màu nâu đỏ có nhiều chỗ lồi lõm. Thể chất cứng chắc, rất khó bẻ. Mặt cắt ngang có lớp vỏ bần màu nâu sậm, lớp bên trong màu hồng có nhiều bột, ở giữa thường có lõi gỗ cứng. Bột có màu nâu hồng, không mùi, vị đắng chát.

Hà thủ ô đỏ dạng phiến được cắt ngang hay cách dọc với nhiều hình dạng khác nhau, lớp ngoài cùng màu nâu đen, lớp bên trong màu nâu hồng, ở giữa một số phiến có lõi gỗ to, một số phiến không có lõi tùy theo vị trí cắt. Phiến hà thủ ô giòn, có thể bẻ gãy, mùi thơm nhẹ, vị chát hoặc hơi chát.

Hà thủ ô trước khi sử dụng thường được chế biến với nước đậu đen nhiều lần (cửu chưng cửu sái) nên có thể khác với mùi của hà thủ ô khi chưa chế biến và màu sắc cũng sậm hơn. Những phiến để lâu ngày thường chuyển màu nâu đen và đôi khi có mùi ôi hay mốc nếu bảo quản không tốt. Hà thủ ô thường được bán dưới dạng phiến hay củ.

Phiến hà thủ ô giả thường dày khoảng 1-3mm, màu nâu hồng hay nâu tím. Có thể gặp phiến hình hơi tròn hay bầu dục, thường cong queo, lớp bần bề ngoài hơi sần sùi hay có xơ gai nhỏ bị cắt ngang hay dọc phân bổ đều khắp bề mặt phiến kể từ lớp bần vào bên trong. Thể chất cứng, khó bẻ, vị rất chát, se lưỡi.

Xem những mẫu dược liệu của chúng tôi lấy về, dược sĩ này đã có thể nhận biết được những mẫu thật - giả. Nhưng để chắc chắn hơn, chúng tôi nhờ dược sĩ này soi chúng dưới kính hiển vi. Quả nhiên những mẫu thật giả đã được phân biệt rõ ràng. Những lát củ nâu được bán như là hà thủ ô đỏ hiển hiện. Dược sĩ nói trên giải thích: “Dưới kính hiển vi, hà thủ ô thật và giả có nhiều điểm khác nhau về cấu tạo và cách sắp xếp các bó mạch (hay còn gọi là bó libe - gỗ), hạt tinh thể calci oxalat. Tuy nhiên, đặc điểm dễ nhận ra nhất là phiến hà thủ ô thật có nhiều tinh thể calci oxalat hình cầu gai trong mô mềm, còn hà thủ ô giả không có thành phần này”.

Nguy hiểm khôn lường

Một lương y cho biết, ông không bao giờ dám dùng hà thủ ô hiện bán ở thị trường vì chúng thật - giả lẫn lộn và không thể đảm bảo chất lượng. Bởi, theo kinh nghiệm của ông, hà thủ ô đỏ thật và đạt chất lượng, ngoài màu sắc còn có thể nhận biết mùi của nó rất thơm, gần như nhân sâm. Hơn nữa, giá gốc 1kg hà thủ ô đỏ bán tại Sapa đã là 140 ngàn đồng, chứ làm sao có giá 40 - 65 ngàn đồng/kg được. Ông cho biết thêm, hà thủ ô thật nếu chế biến đúng cách (khá phức tạp không nằm trong phạm vi bài viết này) thì giá thành có thể lên đến 600 ngàn đồng/kg.

Theo các dược sĩ, hà thủ ô phải chế biến kỹ để giảm bớt thành phần tannin có sẵn trong dược liệu. Thành phần này nếu có nhiều sẽ làm cho hà thủ ô có vị chát, uống vào sẽ kích ứng niêm mạc dạ dày, đến ruột sẽ làm săn se niêm mạc ruột, giảm co thắt ruột gây táo bón, tích tụ chất độc trong cơ thể. Nếu dùng lâu ngày sẽ có ảnh hưởng không tốt trên gan thận. Còn nếu dùng hà thủ ô đã lâu ngày bị biến chất hoặc ẩm mốc sẽ có hại cho gan, thận.

Một dược sĩ còn cho biết thêm, hiện cũng có một số mẫu hà thủ ô đỏ đã bị chiết xuất một phần hoặc toàn bộ hoạt chất trước khi đem ra bán trên thị trường ở dạng dược liệu khô. Đó là tác hại nếu dùng hà thủ ô chế biến không đúng cách hoặc kém chất lượng, còn dùng thứ giả như củ nâu thì sao? Có người cho rằng, củ nâu không độc, bằng chứng là đôi khi người ta dùng nó như là một thứ thực phẩm. Thực tế, củ nâu muốn ăn phải gọt bỏ vỏ rồi đem ngâm ở suối nhiều ngày mới có thể dùng được, vì hàm lượng tannin có trong củ nâu rất cao. Ngoài ra khi dùng củ nâu để thay thế hà thủ ô đỏ, ngoài việc không đạt hiệu quả như mong muốn có thể gây độc cho cơ thể nếu dùng lâu ngày.

Chuyện kể rằng ngày trước ở huyện Nam Hà, Trung Quốc, có một ông lão tên là Điền Nhi, thể trạng yếu ớt từ lúc sinh ra. Một lần đi rừng, Điền Nhi đào được một củ lạ và thử đem tán nhỏ, hòa với rượu uống. Kỳ lạ thay, sau một thời gian uống, các bệnh đều khỏi, tóc bạc bỗng đen lại, da căng, ngực nở như mới đôi mươi. Ông sống khỏe mạnh, thọ đến 160 tuổi. Thứ củ đó chính là hà thủ ô

Hà thủ ô có hai loại: đỏ và trắng. Tuy nhiên, hà thủ ô đỏ mới là vị thuốc đúng dùng trong Đông y. Theo y học cổ truyền Trung Quốc, loại củ này là vị thuốc quan trọng trong nhiều bài thuốc bổ.

Nhiều nghiên cứu đã công nhận, hà thủ ô có tác dụng với nhiều bệnh lý như rụng tóc, tóc bạc sớm. Chúng còn được dùng để chữa đau lưng dưới, yếu khớp gối, yếu cơ, liệt nửa người, tinh thần hồi hộp, chóng mặt, mất ngủ, suy nhược thần kinh, tăng cholesterol máu và xơ vữa động mạch. Ngoài ra, hà thủ ô còn có thể giúp chống lão hóa, tăng cường hệ thống miễn dịch của cơ thể, giúp nhuận tràng, điều chỉnh lượng đường trong máu.

Rất nhiều người biết đến hà thủ ô nhờ công dụng làm trẻ hóa mái tóc của loại củ này. Một nghiên cứu thực hiện trên 48 người, bao gồm 24 nữ và 24 nam, trong độ tuổi từ 30 – 60, cho thấy có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng rụng tóc như tuổi tác, căng thẳng, hút thuốc. Họ đều được dùng 4g củ hà thủ ô, chia làm hai lần trong ngày.

Sau một tháng điều trị, 91% nam giới và 87% phụ nữ cho biết chứng rụng tóc của mình được cải thiện tốt như tóc ít rụng, khỏe và đen hơn. Không ai trong số họ gặp tác dụng phụ trong thời gian điều trị. Không chỉ vậy, trong củ hà thủ ô còn có chất đạm, tinh bột, chất béo, đặc biệt là có chất lexitin. Đây là thành phần chủ yếu của hệ thần kinh, giúp điều trị thần kinh suy nhược, suy dinh dưỡng, có lợi cho tim.

Đông y có bài thuốc chữa thần kinh suy nhược, ăn uống khó tiêu dành cho người già yếu, trong đó hà thủ ô là vị thuốc chính: 10g hà thủ ô, 5g táo đen, 2g thanh bì, 3g trần bì, 3g sinh khương, 2g cam thảo, 600ml nước. Tất cả đem sắc đến khi còn khoảng 200ml, uống ba lần trong ngày.

Nếu có biểu hiện như da nhợt nhạt, hoa mắt, chóng mặt, mất ngủ, bạn có thể bồi bổ khí huyết bằng cách ăn cháo nấu với hà thủ ô. Bạn nên bọc hà thủ ô trong vải thưa rồi cho vào nồi, nấu chung với cháo. Khi cháo nhừ, bạn vớt hà thủ ô ra, nêm nếm tùy theo khẩu vị.

Hà thủ ô có rất nhiều công dụng chữa bệnh. (Ảnh minh họa)

Cầu kỳ hơn, bạn có thể lấy 30g hà thủ ô nghiền thành bột, bọc chặt trong túi vải rồi nhét vào bụng một con gà mái đã làm sạch. Bạn cần hầm nhừ món gà này bằng nồi đất rồi ăn trong ngày.

Một cách để bạn dễ dàng sử dụng vị thuốc này là thái vụn hà thủ ô, ngưu tất, sinh địa, đường quy rồi hâm với nước sôi để uống thay trà.

Trên thị trường hiện nay có loại hà thủ ô giả, kém chất lượng làm từ củ nâu hoặc hà thủ ô trắng. Để tránh mua phải hàng giả, bạn nên xem xét thật kỹ hoặc nhờ người biết về các vị thuốc Đông y đi cùng.

Hà thủ ô đỏ có hình dạng tương tự củ khoai lang, bề ngoài nhiều chỗ lồi lõm, cứng, khó bẻ. Miếng cắt ngang bên trong màu hồng, giữa thường có lõi gỗ cứng. Hà thủ ô đỏ có nhiều bột màu nâu hồng, không mùi, vị đắng chát.

Nếu đang dùng hà thủ ô trị bệnh, bạn nên hạn chế ăn huyết động vật, củ cải, các loại gia vị như hành, tỏi. Người bị táo bón, tiêu chảy nhiều không nên dùng hà thủ ô. Bạn cần bảo quản hà thủ ô đã chế biến ở nơi khô thoáng, tránh ẩm mốc vì khi bị mốc, chúng sẽ gây hại cho gan và thận.

Bạn có thể sử dụng hà thủ ô dưới dạng thuốc sắc, thuốc tán, thuốc viên đều có hiệu quả.

Để làm đen tóc, râu, khỏe gân xương, người ta sử dụng bài thuốc sau:

- 600g hà thủ ô đỏ, 600g hà thủ ô trắng ngâm với nước vo gạo bốn ngày đêm, cạo bỏ vỏ. Đậu đen đãi sạch, cho một lượt hà thủ ô, một lượt đậu đen vào chõ, đồ chín rồi bỏ đậu lấy hà thủ ô phơi khô, rồi lại đồ. Tiếp tục làm như vậy chín lần rồi lấy hà thủ ô sấy khô, tán bột. Việc này nhằm tận dụng chất antycyanidin trong đậu đen để giảm tính chát và gây táo bón trong hà thủ ô.

- 600g xích phục linh và 600g bạch phục linh, cạo vỏ, tán bột, đãi với nước trong đến khi sạch, lọc lấy bột lắng, nắm lại, tẩm với sữa mẹ rồi phơi khô.

- 320g ngưu tất tầm rượu khoảng một ngày, thái mỏng, đồ cùng hà thủ ô với đậu đen vào ba lần đồ cuối.

- 320g đương quy, 320g câu kỷ tẩm rượu, phơi khô, 320g thỏ ty tử tẩm rượu giã nát, phơi khô.

- 100g bổ cốt chi trộn với vừng đen, sao khô đến lúc thấy mùi thơm.

Sau khi chế biến xong, giã nát, trộn đều các vị thuốc trên, cho thêm mật ong rồi vo thành viên 0,5g, chia thành ba lần uống trong ngày, mỗi lần 50 viên. Người dùng nên uống thuốc buổi sáng bằng rượu, trưa uống với nước gừng, tối dùng với nước muối.

Theo luận trị của y học cổ truyền, hà thủ ô có những công dụng chính là làm đen râu tóc, có lợi cho việc sinh con và giúp kéo dài tuổi thọ. Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu dược lí hiện đại cũng đã chứng minh hà thủ ô có tác dụng điều chỉnh rối loại lipid máu, giúp ngăn ngừa tình trạng vữa xơ động mạch, nâng cao khả năng miễn dịch và kháng khuẩn...

Cây hà thủ ô trắng

Huyền thoại cây hà thủ ô

Chuyện xưa kể rằng, vào đời Đường bên Trung Quốc, có một người tên là Hà Điền Nhi ốm yếu từ nhỏ, năm 58 tuổi vẫn chưa có con, bởi vậy trong lòng phiền muộn khôn nguôi.

Một hôm, họ Hà buồn quá bèn xuống núi uống rượu say đến nỗi nằm lăn ra ngủ cạnh bìa rừng mà không biết. Khi tỉnh dậy, anh ta chợt nhìn thấy bên cạnh mình có một loại cây thân leo, từng cặp, từng cặp uốn quấn với nhau rất là kỳ quái. Đợi khi trời sáng, Hà Điền Nhi bèn đào lấy rễ cây đem về nhà kiên trì sắc uống.

Sau nhiều tháng, tóc anh ta từ bạc trắng chuyển thành đen nhánh, thân hình trở nên cường tráng, trong 10 năm sinh liền mấy đứa con sống thọ 160 tuổi. Cháu nội của Điền Nhi là Hà Thủ Ô dùng thuốc cũng thọ tới 130 tuổi mà tóc vẫn còn đen bóng. Anh ta đem thuốc cho họ hàng và bà con làng xóm cùng dùng, bởi vậy mọi người gọi cây thuốc này là hà thủ ô.

Qua câu chuyện chúng ta thấy, hà thủ ô ít nhất 3 tác dụng đặc biệt: Làm đen râu tóc, có lợi cho việc sinh con và kéo dài tuổi thọ.

Ba công dụng chính của hà thủ ô

Làm đen râu tóc: Theo quan niệm của y học cổ truyền, râu tóc có quan hệ mật thiết với tàng thận, thận tàng chứa tinh, tinh sinh huyết. Tóc là phần thừa của huyết cho nên nếu thận hư yếu thì tóc không được nuôi dưỡng đầy đủ dẫn đến sớm bạc và dễ dụng.

Ngược lại nếu thận tinh xung túc thì râu tóc dầy khỏe và đen bóng. Hà thủ ô có công dụng bồi bổ can thận, dưỡng huyết tư âm, bởi vậy khả năng làm đen râu tóc của vị thuốc này là điều dễ hiểu.

Canh dưỡng sinh hà thủ ô

Có lợi cho việc sinh con: Lý luận của y học cổ truyền cho rằng, thận tàng tinh, chủ về việc sinh con đẻ cái nếu thận tinh xung túc thì sự sinh trưởng tác dụng của cơ thể diễn ra thuận lợi, năng lực tinh dục được khôi phục và nâng cao nên rất dễ sinh con.

Trong sách "Bản thảo cương mục", danh y Lý Thời Trân đã ghi lại chuyện Minh Thế Tông Hoàng đế chữa khỏi được chứng bất dục bằng phương thuốc Thất bảo mỹ nhiêm đan trứ danh với chủ dược là hà thủ ô.

Kéo dài tuổi thọ: Y học cổ truyền cho rằng, sự già yếu con người cũng do quá trình suy giảm của thận tinh quyết định, bởi vậy việc sử dụng hà thủ ô lâu dài để bổ ích thận tinh cũng có tác dụng kéo dài tuổi thọ.

Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại đã chứng minh hà thủ ô có tác dụng điều chỉnh rối loạn lipit máu, giúp ngăn ngừa tình trạng vữa xơ động mạch, bảo vệ tế bào gan, thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu, nâng cao khả năng miễn dịch, cải thiện hoạt động về hệ thống các tuyến nội tiết, đặc biệt là tuyến thượng thận và giáp trạng.

Ngoài ra, hà thủ ô còn có tác dụng kháng khuẩn, nâng cao khả năng chống rét của cơ thể, nhuận tràng và giải độc.

Thời xưa, phương thức dùng hà thủ ô chủ yếu là sắc uống, chế thành viên hoàn, cao thuốc hoặc ngâm rượu. Hiện nay, với công nghệ hiện đại người ta bào chế thành các dạng tiện dùng như bột hà thủ ô, viên nang, trà tan...

Một số cách dùng hà thủ ô đơn giản:

- Hà thủ ô 30g, gà mái một con, gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, mổ bụng, rửa sạch. Hà thủ ô nghiền thành bột đựng trong túi vải buộc chặt rồi cho vào bụng gà. Tất cả đem hầm bằng nồi đất thật nhừ, chế thêm gia vị làm canh ăn trong ngày.

Hà thủ ô thái lát

- Hà thủ ô 60g, trứng gà 3 quả. Sắc hà thủ ô lấy nước bỏ bã rồi đập trứng vào đun chín là được.

- Hà thủ ô 30g, đại táo 3 quả, gạo tẻ 100g, đường đỏ 50g. Hà thủ ô ngâm nước trong 2 giờ rồi sắc trong 1 giờ, bỏ bã lấy nước đem nấu với gạo và đại táo thành cháo, chế thêm đường ăn trong ngày; hoặc hà thủ ô 15 - 20g cho vào nồi đất hầm nhừ rồi cho thêm 50 - 100g gạo nấu tiếp thành cháo, chế thêm mật ong ăn khi đói bụng.

- Hà thủ ô 20g, sơn tra 20g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15 - 20 phút là dùng được, uống thay trà hàng ngày.

- Hà thủ ô 120g, đương quy 60g, sinh địa 80g, rượu trắng 2.500ml các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu, nút kín để nơi thoáng mát khô ráo sau một tuần có thể dùng được. Uống mỗi lần 15ml vào buổi sáng, tối.

- Hà thủ ô 500g, kỷ tử 50g, long nhãn 200g, đinh hương 15g, mật ong 50g, rượu trắng 2.000ml. Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong 36 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 15 - 20ml.

- Hà thủ ô 20g, ngưu tất 15g, sinh địa 15g, đương quy 15g. Các vị hãm với nước sôi trong bình kín sau 15 - 20 phút thì được uống, uống thay trà trong ngày.

- Hà thủ ô 50g, thỏ ty tử 50g, xích minh 50g, ngưu tất 50g, đương quy 25g, bổ cốt chỉ 25g, bạch linh 15g. Các vị tán bột, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 15g với mật ong pha rượu nhạt.

Cần lưu ý: Khi dùng hà thủ ô cần kiêng ăn huyết động vật, hành tỏi và củ cải. Khi bào chế không được dùng các dụng cụ bằng kim loại. Cách thức chế biến hà thủ ô khác nhau sẽ cho tác dụng khác nhau. Hà thủ ô đã qua chế biến có công dụng bổ thận, ích tinh, tư âm, dưỡng huyết còn hà thủ ô sống và tươi có công dụng thông tiện, giải độc.

Theo y học cổ truyền, hà thủ ô có công dụng bổ can thận, ích tinh huyết, nhuận tràng, thông tiện, làm đen râu tóc. Y học hiện đại đã phát hiện thêm nhiều công dụng quý nữa của vị thuốc này, chẳng hạn như bảo vệ gan, dự phòng xơ vữa động mạch...

Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, hà thủ ô có tác dụng dược lý khá phong phú như điều chỉnh rối loạn lipid máu, giúp ngăn ngừa tình trạng vữa xơ động mạch, bảo vệ tế bào gan, thúc đẩy quá trình sản sinh hồng cầu, nâng cao khả năng miễn dịch, cải thiện hoạt động của hệ thống các tuyến nội tiết, đặc biệt là tuyến thượng thận và giáp trạng. Ngoài ra, hà thủ ô còn có tác dụng kháng khuẩn, nâng cao khả năng chống rét của cơ thể, nhuận tràng và giải độc.

Thời xưa, phương thức dùng hà thủ ô chủ yếu là sắc uống, chế thành viên hoàn, cao thuốc hoặc ngâm rượu. Hiện nay, với công nghệ hiện đại, người ta bào chế thành các dạng tiện dùng như bột hà thủ ô, viên nang, trà tan...

Một số cách dùng hà thủ ô đơn giản và tiện lợi:

- Hà thủ ô 30 g, gà mái 1 con, gia vị vừa đủ. Gà làm thịt, mổ bụng, rửa sạch. Hà thủ ô nghiền thành bột đựng trong túi vải buộc chặt rồi cho vào bụng gà. Tất cả đem hầm bằng nồi đất thật nhừ, chế thêm gia vị, dùng làm canh ăn trong ngày.

- Hà thủ ô 60 g, trứng gà 3 quả. Sắc hà thủ ô, lấy nước bỏ bã rồi đập trứng vào đun chín là được.

- Hà thủ ô 30 g, đại táo 3 quả, gạo tẻ 100 g, đường đỏ 50 g. Hà thủ ô ngâm nước 2 giờ rồi sắc trong 1 giờ, bỏ bã lấy nước đem nấu với gạo và đại táo thành cháo, chế thêm đường ăn trong ngày. Hoặc hà thủ ô 15-20 g cho vào nồi đất hầm nhừ, cho thêm 50-100 g gạo nấu tiếp thành cháo, chế thêm mật ong ăn khi đói.

- Hà thủ ô 20 g, sơn tra 20 g. Hai thứ thái vụn, hãm với nước sôi trong bình kín, sau 15-20 phút là dùng được, uống thay trà hằng ngày.

- Hà thủ ô 120 g, đương quy 60 g, sinh địa 80 g, rượu trắng 2.500 ml. Các vị thuốc thái vụn gói trong túi vải rồi cho vào vò ngâm với rượu, nút kín để nơi thoáng mát khô ráo, sau 1 tuần có thể dùng được. Uống mỗi ngày 15 ml vào buổi sáng.

- Hà thủ ô 200 g, kỷ tử 50 g, long nhãn 200 g, đinh hương 15 g, mật ong 50 g, rượu trắng 2.000 ml. Các vị thuốc thái vụn ngâm với rượu trong 36 ngày là dùng được. Mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 15-20 ml.

Hà thủ ô dùng làm thuốc bổ huyết là Hà thủ ô đỏ, còn gọi là Chế thủ ô. Thủ ô là rễ phơi khô của cây Hà thủ ô đỏ ( Polygonum multiflorum thunb) thuộc họ Rau răm ( Polygonaceae). Chế Hà thủ ô là Hà thủ ô là Hà thủ ô chế với Đậu đen ( 9 lần đồ, 9 lần phơi) cho Hà thủ ô thành màu đen có tác dụng bổ huyết tốt.

Tính vị qui kinh:

Về tính vị:

Vị đắng, ngọt, sáp, hơi ôn, qui kinh Can thận.

Theo các sách thuốc cổ:

Sách Hà thủ ô lục: vị ngọt, tính ôn, không độc.

Sách Khai bảo trùng định bản thảo: vị đắng, sáp, hơi ôn, không độc.

Sách Bản thảo hội ngôn: dùng sống khí hàn, tính liễm có độc. Chế thục khí ôn không độc.

Về qui kinh:

Sách Bản thảo cương mục: túc quyết âm, thiếu âm.

Sách Bản thảo kinh giải: nhập túc thiếu dương đởm kinh, thủ thiếu dương tam tiêu kinh, thủ thiếu âm tâm kinh, túc thiếu âm thận kinh.

Sách Bản thảo tái tân: nhập 3 kinh Tỳ Phế Thận.

Thành phần chủ yếu:

Chrysophanic acid, emodin, rhein, chrysophanic acid, anthrone, lecithin.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Bổ ích tinh huyết ( Chế thủ ô), dùng sống có tác dụng giải độc, triệt ngược, nhuận tràng, thông tiện, tư âm cường tráng. Chủ trị tinh huyết hư, sốt rét lâu ngày, ung sang độc, chứng loa lịch, chứng táo bón.

Trích đoạn Y văn cổ:

Sách Hà thủ ô lục: " trị ngũ trĩ, bệnh lưng gối, làm mạnh gân lực, ích tinh tủy, tráng khí, làm đen tóc, kéo dài tuổi thọ. Trị bệnh phụ nữ sau sanh, xích bạch đới, lî lâu ngày không khỏi".

Sách Nhật hoa tử bản thảo: " uống lâu dễ có con, trị bệnh ở bụng, các chứng lãnh khí trường phong".

Sách Bản thảo cương mục: " trị can phong .. Thủ ô trắng vào phần khí, Thủ ô đỏ vào phần huyết, thuốc khí ôn, vị đắng, sáp; đắng bổ thận, ôn bổ can, thu liễm tinh khí, dưỡng huyết ích can, cố tinh thận, kiện gân cốt, làm đen râu tóc là vị thuốc tư bổ tốt".

Sách Dược phẩm hóa nghĩa: " ích ca liễm huyết tư âm. triệt hư ngược, chỉ thận tả".

Sách Bản kinh phùng nguyên: " Hà thủ ô sống tính phát tán, trị sốt rét nóng lạnh, các chứng ung thư bối sang đều dùng được. Dùng tưới sắc uống thông tiện, tác dụng không khác Nhục thung dung.".

Sách Bản bảo thuật: " trị trúng phong, đầu thống, hành tý, hạc tất phong, chứng động kinh, hoàng đản".

Sách Bản thảo cầu chân: " Hà thủ ô nhập vào Can để ích huyết khu phong kiêm bổ thận ..là thuốc tuấn bổ chân âm tiên thiên, thuốc cũng cần cho điều bổ dinh huyết của hậu thiên, thuốc dưỡng tinh thần, điều bổ nguyên khí".

Sách Thần nông bản thảo kinh độc: " Hà thủ ô dùng trị sốt rét và lî lâu ngày . cái hay của Hà thủ ô là nhập Thiếu dương kinh, khí rất mạnh, mạnh nên triệt được ngược tà, vị của thuốc rất sáp, sáp nên chặn được ngược tà, nếu bệnh chưa hết cho thêm Sài, Linh, Quất, Bán. Nếu đã khỏi nên thêm Sâm, Truật, Kỳ, Qui cho thêm 1, 2 thang".

Sách Bản thảo tái tân: " bổ phế hư chỉ thổ huyết".

B.Kết quả nghiên cứu Dược lý hiện đại:

Hà thủ ô có tác dụng hạ Cholesterol huyết thanh, được chứng minh rõ trên mô hình gây cholesterol cao ở thỏ nhà, thuốc còn có tác dụng làm giảm hấp thu cholesterol của ruột thỏ, theo tác giả, thuốc có thành phần hữu hiệu kết hợp với cholesterol ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972). Thuốc có tác dụng phòng chống và giảm nhẹ xơ cứng động mạch. Có thể tác dụng giảm xơ cứng động mạch và do thuốc có thành phần Lecithin ( Tư liệu tham khảo Tân y học 5 - 6, 1972).

Thuốc làm chậm nhịp tim. Làm tăng nhẹ lưu lượng máu động mạch vành và bảo vệ được cơ tim thiếu máu.

Thuốc có khả năng nâng cao sức chống lạnh của chuột nhắt. Hà thủ ô trắng có tác dụng tăng cường miễn dịch.

Thuốc giữ được tuyến ức của chuột nhắt già không bị teo mà giữ được mức như lúc chuột còn non, tác dụng này có ý nghĩa chống lão hóa nhưng cơ chế còn cần nghiên cứu thêm.

Thuốc có tác dụng nhuận tràng do dẫn chất oxymethylanthraquinone làm tăng nhu động ruột ( Trích yếu văn kiện nghiên cứu Trung dược - Nhà xuất bản Khoa học xuất bản 1965, trang 345 - 346). Hà thủ ô sống có tác dụng nhuận tràng mạnh hơn Hà thủ ô chín.

Tác dụng kháng khuẩn và virus: thuốc có tác dụng ức chế đối với trực khuẩn lao ở người và trực khuẩn lî Flexner. Thuốc có tác dụng ức chế virus cúm ( Học báo Vi sinh vật 8,164, 1960).

Glucozit Hà thủ ô trắng có tác dụng ức chế tế bào ung thư.

Ứng dụng lâm sàng:

1.Trị chứng huyết hư, cơ thể suy nhược: có triệu chứng lưng gối mỏi nhức, váng đầu, hoa mắt, tóc bạc sớm, di tinh, huyết trắng nhiều, dùng bài:

Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 20g, Thỏ ty tử 12g, Đương qui 12g, Ngưu tất 12g, Bổ cốt chí 12g, tán bột mịn, luyện hoàn với mật ong. Mỗi lần uống 8 - 12g, ngày 2 lần với nước sôi nguội hoặc nước muối nhạt. Trường hợp ra mồ hôi trộm hoặc ra nhiều mồ hôi ( tự hãn) gia Hoàng kỳ, Long cốt, Mẫu lệ, Bạch truật, Hoàng tinh, Chích thảo.

Trường hợp mất ngủ do huyết hư, dùng bài: Chế Hà thủ ô, Bắc Sa sâm, Qui bản, Long cốt, Bạch thược, mỗi thứ 12g, sắc uống.

Trường hợp thận yếu, đau lưng mỏi gối, di tinh nặng hoặc băng lậu đới hạ, sinh dục yếu, dùng bài: Thất bảo mỹ nhiệm đơn ( Thiệu ứng Tiết): Chế Thủ ô 20g, Bạch phục linh, Ngưu tất, Đương qui, Thỏ ty tử, Phá cố chỉ, mỗi thứ 12g, luyện mật làm hoàn, mỗi lần 12g, ngày 2 lần.

2.Trị lipid huyết cao, xơ cứng động mạch, cao huyết áp, bệnh động mạch vành: có tác dụng làm giảm hoặc hết triệu chứng, ổn định bệnh, làm tăng sức, thường kết hợp với Ngân hạnh diệp, Câu đằng. Có công trình nghiên cứu dùng viên Hà thủ ô ( mỗi viên nặng 0,25g gồm thuốc sống 0,81 trong đó 30% bột Hà thủ ô, 70% cao nước chế thành), mỗi lần uống 5 - 6 viên ( có người uống 8 - 10 viên), ngày 3 lần, dùng thuốc liên tục trong 2 - 12 tuần, lâu nhất 14 tháng. Trị 178 ca cholesterol huyết thanh cao, kết quả tốt 38,2%, tiến bộ 23,6%, tỷ lệ kết quả 61,8% cholesterol huyết thanh giảm bình quân 39mg% trong đó 32% bệnh nhân giảm xuống mức bình thường, đối với bệnh nhân vừa và cao, kết quả tốt ( Bệnh viện Nhân dân Thượng hải số 3 trực thuộc Y học viện điều trị trị bằng viên Hà thủ ô, Báo Công nghiệp Y dược 1974,6:1).

Trị huyết áp cao, dùng bài Hà thủ ô hợp tể: Chế Hà thủ ô, Sinh địa, Huyền sâm, Sinh Bạch thược, Nữ trinh tử, Hạn liên thảo, Sa uyển tật lê, Hy thiêm thảo, Tang ký sinh, Hoài Ngưu tất, mỗi thứ 12g, sắc nước uống.

3.Trị sốt rét lâu ngày, thương âm khó lành: dùng bài:

Hà thủ ô 40g, Sài hồ 12g, Đậu đen 20g, sắc nước phơi sương 1 đêm, sáng hầm lên uống nóng.

Hà Nhân ẩm: Chế Hà thủ ô 16g, Đảng sâm, Đương qui, Trần bì, Oåi khương, mỗi thứ 12g, sắc uống.

4.Trị táo bón: trị táo bón do huyết hư, tân dịch hao tổn, dùng Tứ thạch, Đơn thạch, Đơn sâm, Ngũ vị tử, Toan táo nhân, Xuyên khung ( lượng nhỏ), có kết quả. Có tác giả dùng dịch tiêm Hà thủ ô 20% tiêm bắp mỗi lần 4ml, ngày 1 lần, 20 - 30 ngày là một liệu trình; trường hợp nặng chích 1 ngày 2 lần, cách nhật, liệu trình 15 - 20 ngày, nghỉ 15 - 20 ngày, ngủ khá hơn thì 9 ngày 1 lần hoặc uống Hà thủ ô mỗi lần 5 - 7 viên ( 0,5g/viên), ngày 3 lần, trường hợp uống lâu dài, ngày 2 lần sáng tối. Trường hợp bệnh nhẹ hoặc bệnh giảm, mỗi tối uống 6 - 10 viên trước lúc ngủ. Uống và chích thay đổi dùng. Đã trị 141 ca, khỏi lâm sàng 53,9%, tiến bộ ngủ tốt 44,7%, tỷ lệ có kết quả 98,6%, theo tác giả tốt hơn loại thuốc ngủ Bromure và Meprobamate ( Bệnh viện 201 Giải phóng quân, Phân tích lâm sàng 141 ca mất ngủ bằng Hà thủ ô, Thông tin Trung thảo dược 1974,5:38).

6.Trị ho gà: dùng Hà thủ ô 6 - 12g, Cam thảo 1,5 - 3g, mỗi ngày 1 thang sắc, chia 4 - 6 lần uống, có người uống xong tiêu chảy nhẹ, dùng Kha tử hoặc Anh túc xác. Đã trị 35 ca khỏi 19 ca, cơ bản khỏi 8 ca, tiến bộ 4 ca, không kết quả 1 ca ( Vương Khởi Minh, Báo cáo về kết quả bước đầu điều trị ho gà bằng Hà thủ ô, Báo Trung y Giang tô 1965,3:10).

7.Trị sốt rét: Dùng Hà thủ ô 18 - 25g, Cam thảo 1,5 - 3g, trẻ em giảm lượng, sắc đặc sau 2 giờ, chia 3 lần uống trước bữa ăn. Trị 17 ca kết quả đều tốt ( Vương Khaởi Minh, Báo cáo 17 ca sốt rét điều trị bằng Hà thủ ô, Báo Y học Quảng Đông 1964,4:31).

8.Trị tóc bạc: Dùng Hà thủ ô chế, Thục địa hoàng mỗi thứ 30g, Đương qui 15g, ngâm vào 1000ml rượu trắng 10 - 15 ngày, sau cùng mỗi lần 15 - 30ml, uống liên tục cho đến khi kết quả. Điều trị 36 ca ( 20 ca bạc từng đám, 16 ca rải rác bệnh kéo dài từ 1 đến 10 năm, kết quả khỏi 24 ca, tiến bộ 8 ca, tỷ lệ kết quả 88,9% ( Triệu Hồng Bân, Rượu Hà thủ ô trị tóc bạc, Tạp chí Trung Y Sơn đông 1983,4:41).

9.Trị tổn thương thần kinh quay: dùng Hà thủ ô 30g sắc, chia uống sáng và chiều, liệu trình 1 tháng. Theo dõi 14 ca, tỷ lệ khỏi 86,7% ( Truyền Bằng Liêu, Báo cáo 14 ca tổn thương thần kinh quay trị bằng Hà thủ ô, Tạp chí Trung hoa Trung y cốt thương khoa 1988,1:34).

10.Ngoài ra còn có báo cáo dùng trị mề đay, lở nhọt, trị nốt ruồi, tinh trùng yếu.

11.Giới thiệu một số bài thuốc đơn giản có Hà thủ ô thường dùng trong nhân dân để bổ dưỡng đối với người suy nhược:

Hà thủ ô 10g, Đại táo 5g, Thanh bì 2g, Trần bì 3g, Sinh khương 3g, Cam thảo 2g, nước 600ml, chia 3 lần uống trong ngày.

Hà thủ ô hoàn: Hà thủ ô 1.800g thái mỏng, Ngưu tất 600g thái mỏng. Hai vị trộn đều, dùng 1 đấu to đậu đen đãi sạch. Cho thuốc vào chõ, cứ một lượt thuốc 1 lượt đậu. Đồ chín đậu, lấy thuốc ra phơi khô. Làm như vậy 3 lần rồi tán bột. Lấy thịt Táo đen trộn với bột làm thành viên 0,5g, ngày uống 3 lần, mỗi lần 30 viên, dùng rượu hâm nóng, chiêu thuốc ( theo Hòa tể cục phương).

Hà thủ ô tán ( Bản thảo cương mục): Hà thủ ô cạo vỏ, thái mỏng, phơi khô, tán bột. Ngày uống 4g vào sáng sớm, chiêu với rượu.

Hà thủ ô trắng, Dây sữa bò - Streptocaulon juventas Merr., thuộc họ Thiên lý - Asclepiadaceae.

 

Mô tả: Dây leo bằng thân quấn dài 2-5m. Vỏ thân màu nâu đỏ, có nhiều lông mịn. Lá mọc đối, phiến lá nguyên, hình bầu dục, chóp lá nhọn, gốc lá tròn, dài 4-14cm, rộng 2-9cm. Hoa nhỏ, màu lục vàng nhạt, mọc thành xim ở nách lá. Quả gồm 2 đại xếp ngang ra hai bên trông như đôi sừng bò. Hạt dẹt mang một mào lông mịn. Toàn cây có nhựa mủ màu trắng như sữa.  

 

Bộ phận dùng: Rễ củ - Radix Streptocauli Juventatis

 

Nơi sống và thu hái: Cây của miền Đông Dương, mọc hoang rất nhiều ở vùng đất cao, đồi gò, rừng thứ sinh, đặc biệt là trên các nương rẫy đã bỏ hoang hoặc mới khai hoang. Cây tái sinh khoẻ. Thu hái rễ củ quanh năm. Rễ đào về, rửa sạch, thái lát dày khoảng 3cm, phơi hay sấy khô. Có thể ngâm nước vo gạo một đêm trước khi phơi hay sấy khô.

 

Thành phần hóa học: Rễ củ chứa tinh bột, nhựa đắng, tanin pyrogalic và một chất có phản ứng alcaloid có tinh thể chưa xác định.

 

Tính vị, tác dụng: Hà thủ ô trắng có vị đắng chát, tính mát; có tác dụng bổ máu; bổ gan và thận.

 

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Thường dùng chữa thiếu máu, thận gan yếu, thần kinh suy nhược, ăn ngủ kém, sốt rét kinh niên, phong thấp tê bại, đau nhức gân xương, kinh nguyệt không đều, bạch đới, ỉa ra máu, trừ nọc rắn cắn, bạc tóc sớm, bệnh ngoài da mẩn ngứa. Có nơi còn dùng củ và thân lá của cây để chữa cảm sốt, cảm nắng, sốt rét. Có người còn dùng dây sắc lấy nước cho phụ nữ sinh đẻ thiếu sữa uống cho có thêm sữa. Cây lá cũng được dùng đun nước tắm và rửa để chữa lở ngứa. Người ta còn dùng củ chữa cơn đau dạ dày.

 

Cách dùng: Thường dùng mỗi ngày 12-20g dạng thuốc sắc. Có thể nấu cao hay ngâm rượu uống. Cành lá dùng với liều lượng nhiều hơn. Người ta cũng thường chế Hà thủ ô trắng cũng như Hà thủ ô đỏ.

 

Đơn thuốc: Bồi dưỡng cơ thể, tăng cường sức lực, chữa đau lưng mỏi gối; giúp ăn ngủ được: Đậu đen 50g, Đậu đỏ 10g, Đỗ trọng dây 50g, Ráng bay 15g, Củ sen 50g, Bố chính sâm 15g, Hà thủ ô trắng (sao muối) 50g, Phục linh 15g. Các vị hiệp chung, tán làm viên hoàn, mỗi lần uống 3g, ngày uống 3 lần. (Kinh nghiệm ở An Giang).

 

Kiêng kỵ: Không dùng Hà thủ ô trắng đối với người hư yếu, tạng lạnh, đồng thời kiêng ăn tiết canh lợn, cá, lươn, rau cải, hành tỏi.

Tên khoa học:

Radix Fallopiae multiflorae

Nguồn gốc:

Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ, còn gọi là Dạ giao đằng (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum L.), họ Rau răm (Polygonaceae).
Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều vùng đồi núi nước ta.

Thành phần hoá học chính:

Anthranoid, tanin, lecithin.

Công dụng:

Bổ máu, trị thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, bạch đới, đại tiểu tiện ra máu, sớm bạc tóc, mẩn ngứa.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 12-20g dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.

Ghi chú:

Hà thủ ô trắng là rễ củ của Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận.

Theo ST

Được đăng vào

Viết bình luận